AI mở rộng không gian tăng trưởng cho Việt Nam
15/07/2026 - 155 Lượt xem
Chúng ta thường nhắc đến trí tuệ nhân tạo (AI) như một câu chuyện về công nghệ nhưng tại châu Á, AI đã trở thành câu chuyện về thương mại và là một câu chuyện ở tầm quốc gia với một nền kinh tế với xuất khẩu là trọng tâm như Việt Nam.
Theo Khối Nghiên cứu Đầu tư HSBC (HSBC Global Investment Research), thương mại nội vùng châu Á đối với hàng hóa liên quan đến AI như chip bán dẫn, linh kiện và thiết bị để công nghệ AI vận hành đã tăng lên gần hai nghìn tỷ USD trong năm 2025, gấp đôi so với mức trước đại dịch và hiện hàng hóa liên quan đến AI đang chiếm 35% tổng kim ngạch xuất khẩu của châu Á, tăng so với mức 19% của thập kỷ trước.
Nhiều hiệp định thương mại trong hai thập kỷ qua hứa hẹn hội nhập khu vực sâu rộng hơn và giờ đây AI đang hiện thực hóa cơ hội đó. Những hành lang thương mại mới đang hình thành giữa Bắc Á và Đông Nam Á giúp kết nối chip nhớ của Hàn Quốc, tấm bán dẫn tiên tiến của Đài Loan, thiết bị chính xác của Nhật Bản với năng lực lắp ráp và kiểm tra đang mở rộng nhanh chóng tại Đông Nam Á để trở thành một mạng lưới sản xuất thống nhất, trong đó, hơn 30% hoạt động thương mại liên quan đến AI của châu Á đang diễn ra tại chính khu vực này.
Vị thế mới của Việt Nam trong chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh nhiều đổi thay đó, Việt Nam đã tiến nhanh hơn và xa hơn bất kỳ nền kinh tế nào khác. Thị phần thương mại toàn cầu của Việt Nam trong mảng thiết bị liên quan đến AI đã tăng từ 1,2% năm 2015 lên 12,4% năm 2025, là mức tăng cao nhất trên thế giới đối với một nền kinh tế nói riêng trong giai đoạn này. Trong Quý 1/2026, Đài Loan lần đầu tiên trong lịch sử ghi nhận thâm hụt thương mại theo quý với Việt Nam và trong ba tháng tính đến tháng 5, nhập khẩu của Đài Loan từ Việt Nam đã tăng vọt 173% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu được thúc đẩy nhờ máy móc, thiết bị điện và đồ điện gia dụng. Đầu năm 2026, xuất khẩu của Hàn Quốc sang Việt Nam ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong khu vực Đông Nam Á, cho thấy mối liên kết sản xuất sâu rộng cũng như vai trò ngày càng lớn của Việt Nam trong khâu lắp ráp cuối cùng phần cứng máy tính, bao gồm cả thiết bị liên quan đến máy chủ AI.
Những con số này cho thấy một sự dịch chuyển lớn. Việt Nam không còn là một cứ điểm lắp ráp chi phí thấp ở cuối chuỗi cung ứng của nước khác mà đã trở thành một mắt xích trong mạng lưới đa phương: nhập khẩu đầu vào giá trị cao từ Đài Loan và Hàn Quốc, gia tăng quy mô và độ tinh vi của sản xuất, xuất khẩu hàng hoá thành phẩm cũng như hàng hóa trung gian trở lại khu vực châu Á và ra thế giới. Các dòng chảy hai chiều đang ngày càng sâu sắc hơn và vị thế của Việt Nam trong các dòng chảy đó cũng đang được củng cố.
Sự vươn lên này của Việt Nam phản ánh cả yếu tố chính sách lẫn yếu tố địa lý. Chính phủ Việt Nam đã đề ra chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp bán dẫn với tham vọng đào tạo hàng chục nghìn kỹ sư chip bán dẫn vào năm 2030, đồng thời xác định khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là một trụ cột của phát triển quốc gia. Các nhà sản xuất toàn cầu đã hưởng ứng bằng những khoản đầu tư lớn vào mảng đóng gói, kiểm thử và sản xuất hàng điện tử trên khắp Việt Nam, đồng thời Việt Nam hợp tác cùng các tập đoàn công nghệ hàng đầu nhằm đưa năng lực nghiên cứu và thiết kế về cùng các dây chuyền sản xuất.
Song song với mặt cung ứng, Việt Nam cũng đang bắt đầu xây dựng mặt nhu cầu. FDI được công bố trong lĩnh vực trung tâm dữ liệu trên toàn cầu đã vượt mức 270 tỷ USD trong năm 2025, trong đó Đông Nam Á chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Với dân số trẻ, am hiểu công nghệ và cộng đồng doanh nghiệp đang nhanh chóng định hình, Việt Nam có vị thế thuận lợi để trở thành một thị trường tiêu thụ dịch vụ AI quan trọng và một nước sản xuất phần cứng AI. Những nền kinh tế hưởng lợi nhiều nhất trong kỷ nguyên này sẽ là các nền kinh tế tham gia đồng thời ở nhiều khâu trong chuỗi giá trị bao gồm sản xuất phần cứng, vận hành hạ tầng và ứng dụng công nghệ để cải thiện năng suất trên diện rộng trong toàn nền kinh tế.
Thập kỷ phía trước
Những rủi ro này cũng cần được tính đến. Chuyên môn hoá sâu hơn cũng đồng nghĩa Việt Nam dễ bị ảnh hưởng trước các cú sốc chung, đó có thể là suy giảm chi tiêu vốn toàn cầu cho AI, siết chặt kiểm soát xuất khẩu hay biến động mạnh về giá bán dẫn và việc giá chip cùng hàng điện tử tăng có thể làm gia tăng áp lực lạm phát trong toàn khu vực. Một phần thế mạnh xuất khẩu hiện nay cũng có thể đến từ các đơn hàng được đẩy sớm rồi dần trở về mức bình thường theo thời gian.
Tuy vậy, các động lực mang tính cấu trúc vẫn đang ủng hộ Việt Nam. Chuỗi cung ứng đang đa dạng hoá trên khắp châu Á thay vì tập trung vào một điểm duy nhất, các hiệp định khu vực như RCEP và CPTPP tiếp tục giảm rào cản thương mại và Việt Nam, thông qua nhiều làn sóng đầu tư liên tiếp, đã chứng minh được khả năng hấp thụ quy mô, vươn lên cao hơn trong chuỗi giá trị cũng như khả năng triển khai ở quy mô lớn. Trong bối cảnh châu Á chuyển mình từ một bệ phóng xuất khẩu thành một trung tâm nhu cầu AI của chính mình, Việt Nam đang đứng ở vị trí trung tâm trong quá trình chuyển dịch đó xét cả về kinh tế lẫn địa lý.
Nếu Việt Nam chuyển hoá được đà tăng trưởng sản xuất thành một hệ sinh thái AI thực thụ kết hợp quy mô phần cứng với kỹ năng, hạ tầng và mức độ ứng dụng trong doanh nghiệp thì “hoa thơm trái ngọt” sẽ không chỉ “đơm kết” ở kim ngạch xuất khẩu mà còn ở năng suất của nhà máy, của khu vực dịch vụ và trong vận hành thường nhật của hàng trăm nghìn doanh nghiệp. Mười năm trước, vai trò của Việt Nam trong thương mại công nghệ toàn cầu chỉ được đong đếm bằng tỷ lệ phần trăm rất nhỏ. Nhiệm vụ trong thập kỷ tới là phải bảo đảm rằng vị thế của Việt Nam không chỉ là những gì Việt Nam sản xuất cho kỷ nguyên AI mà còn bởi những cơ hội AI có thể mở ra cho Việt Nam.
Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp


