Tin nổi bật
Mở không gian phát triển cho điện gió ngoài khơi
03/07/2026 - 104 Lượt xem
Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 sau tám năm triển khai đã xác lập tư duy mới về phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, xanh và có giá trị gia tăng cao.
Trong bức tranh đó, điện gió ngoài khơi được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng hình thành ngành công nghiệp biển hiện đại, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.
Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, vẫn cần những bước đi quyết liệt nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, hạ tầng và môi trường đầu tư.
Động lực phát triển chuỗi ngành công nghiệp
Nghị quyết số 36-NQ/TW (Nghị quyết 36) xác định, phát triển bền vững kinh tế biển phải dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh; đồng thời ưu tiên phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, có giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường. Trong định hướng đó, điện gió ngoài khơi được xem là một trong những lĩnh vực hội tụ đầy đủ điều kiện để tạo ra không gian phát triển mới cho kinh tế biển Việt Nam.
Với hơn 3.260 km bờ biển và nhiều vùng biển có tốc độ gió ổn định, đặc biệt tại Nam Trung Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các nghiên cứu quốc tế ước tính tiềm năng kỹ thuật về điện gió ngoài khơi của Việt Nam lên tới khoảng 600 GW. Song, nếu chỉ nhìn điện gió ngoài khơi dưới góc độ bổ sung nguồn điện cho hệ thống quốc gia thì vẫn chưa phản ánh hết giá trị của lĩnh vực này. Điều đáng chú ý, mỗi dự án điện gió ngoài khơi đều kéo theo sự phát triển của cả chuỗi ngành công nghiệp, từ khảo sát, thiết kế, chế tạo thiết bị, kết cấu thép, công trình biển, dịch vụ cảng biển, logistics đến vận hành, bảo dưỡng. Đây là những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn và có khả năng lan tỏa sang nhiều ngành kinh tế khác.
Thực tế tại nhiều quốc gia cho thấy, nguồn thu từ chuỗi cung ứng và dịch vụ hỗ trợ thường mang lại giá trị kinh tế lâu dài hơn chính sản lượng điện được tạo ra. Chính vì vậy, điện gió ngoài khơi ngày càng được nhìn nhận như động lực phát triển công nghiệp, thay vì chỉ là một loại hình năng lượng tái tạo.
Đối với Việt Nam, cơ hội này càng trở nên rõ nét khi nhiều doanh nghiệp trong nước đã có nền tảng ở các lĩnh vực đóng tàu, kết cấu thép, cơ khí chế tạo, công trình biển và dịch vụ dầu khí ngoài khơi. Nếu được kết nối với chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, các doanh nghiệp không chỉ tham gia thi công mà còn có điều kiện nâng cao năng lực công nghệ, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực
Ông Purvin Patel, Chủ tịch Khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Vestas-Tập đoàn hàng đầu thế giới về năng lượng gió, nhận định: Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi nhờ nền tảng công nghiệp sẵn có, vị trí địa lý thuận lợi và đội ngũ kỹ sư có trình độ. Điều các tập đoàn quốc tế quan tâm không chỉ là quy mô thị trường mà còn ở tính ổn định của chính sách và danh mục dự án trong dài hạn. Khi thị trường đủ lớn và có khả năng dự báo, các doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư nhà máy sản xuất thiết bị, chuyển giao công nghệ và hình thành chuỗi cung ứng ngay tại Việt Nam.
Tinh thần đó cũng phù hợp với mục tiêu của Nghị quyết 36: Phát triển kinh tế biển không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên mà phải tạo dựng các ngành công nghiệp biển hiện đại, có năng lực cạnh tranh quốc tế. Điện gió ngoài khơi vì thế không đơn thuần là một nguồn năng lượng mới, mà còn là cơ hội để chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành lợi thế phát triển, tạo động lực cho quá trình công nghiệp hóa kinh tế biển.
Thể chế mở đường cho ngành công nghiệp mới
Nếu tiềm năng là điều kiện cần thì thể chế chính là yếu tố quyết định tốc độ phát triển điện gió ngoài khơi. Đây là lĩnh vực có đặc thù khác biệt so với các loại hình năng lượng tái tạo khác khi mỗi dự án có quy mô đầu tư hàng tỷ USD, thời gian chuẩn bị kéo dài và liên quan đến quy hoạch không gian biển, hạ tầng truyền tải, cảng biển, môi trường và cơ chế huy động vốn quốc tế,... Chỉ cần một mắt xích thiếu đồng bộ cũng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình triển khai.
Phát biểu tại Hội nghị Năng lượng gió châu Á-Thái Bình Dương năm 2026, Thứ trưởng Công thương Nguyễn Hoàng Long cho biết, Bộ Công thương đang phối hợp các bộ, ngành hoàn thiện hành lang pháp lý và các cơ chế phát triển điện gió ngoài khơi, đồng thời thúc đẩy nội địa hóa các cấu kiện cơ khí, tháp gió, cáp ngầm và dịch vụ kỹ thuật. Mục tiêu không chỉ phát triển thêm một nguồn điện sạch mà còn từng bước hình thành chuỗi cung ứng trong nước, nâng cấp hạ tầng cảng biển và tạo thêm nhiều việc làm có kỹ năng cao.
Những tín hiệu tích cực từ việc điều chỉnh Quy hoạch điện VIII và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Điện lực đang tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho thị trường. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải duy trì tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách. Với các dự án có vòng đời hàng chục năm, doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến cơ chế hiện hành, sự nhất quán trong quá trình thực thi, từ lựa chọn nhà đầu tư, giao khu vực biển đến cơ chế mua bán điện và đầu tư lưới truyền tải.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là quá trình cụ thể hóa chủ trương thành các quy định pháp luật. Nghị quyết 36 xác lập tầm nhìn phát triển kinh tế biển rất rõ, nhưng việc thể chế hóa đối với lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi vẫn chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Điều này khiến quá trình chuẩn bị đầu tư kéo dài, làm gia tăng chi phí và giảm sức hấp dẫn của thị trường.
“Cần thay đổi cách tiếp cận trong phát triển điện gió ngoài khơi, thay vì nhìn từng dự án riêng lẻ, cần coi đây là quá trình xây dựng ngành công nghiệp mới, chọn lựa nhà đầu tư, khảo sát tài nguyên, đầu tư hạ tầng và phát triển chuỗi cung ứng phải được tính toán đồng bộ ngay từ đầu. Chỉ khi có cơ chế đủ thông thoáng và ổn định, doanh nghiệp mới mạnh dạn đầu tư dài hạn vào sản xuất thiết bị, công trình biển và các dịch vụ kỹ thuật có giá trị gia tăng cao”, ông Thập nhấn mạnh.
Phát triển điện gió ngoài khơi còn hướng tới mục tiêu lớn hơn là hình thành các ngành công nghiệp biển hiện đại, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và tăng tỷ lệ nội địa hóa. Mỗi dự án triển khai thành công sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước ở các lĩnh vực khác như cơ khí, đóng tàu, logistics,... tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khi những rào cản về thể chế, hạ tầng và tổ chức thực hiện được tháo gỡ, điện gió ngoài khơi sẽ mở ra không gian phát triển mới cho công nghiệp biển Việt Nam.
Báo Nhân dân điện tử


